Thư Ngỏ BTC PBCHN 2020 Nam California Hoa Kỳ

Kính thưa quý Thầy Cô cùng các Anh, Chị, Em. Cựu Học Sinh Phan Bội Châu.      Thật là niềm vinh dự lớn lao cho nhóm cựu HS PBC Nam Ca...

Thursday, June 29, 2017

Picnic Thân Hữu Bình Thuận - Humber Bay Park Toronto Canada 1 tháng 7 năm 2017





Humber Bay Park

From Wikipedia, the free encyclopedia
Humber Bay Park
HumberBayPark.jpg
Humber Bay Park
Humber Bay Park is located in Toronto
Humber Bay Park
Location of the park in Toronto
Type Urban park
Location Toronto, Ontario
Coordinates 43°37′14″N 79°28′41″WCoordinates: 43°37′14″N 79°28′41″W
Area 343.1 acres (138.8 ha)
Created 1984
Operated by City of Toronto
Toronto Skyline from Humber Bay Park
Humber Bay Park is a waterfront park located in Etobicoke, part of Toronto, Ontario, Canada. The park consists of two landspits situated at the mouth of Mimico Creek. The park is south of Lake Shore Boulevard West, near Park Lawn Road. Humber Bay Park East is 19 hectares (47 acres), while Humber Bay Park West is 120 hectares (300 acres).[1]

Contents

History

The park maintains a recreational focus for residents and visitors established during the mid-19th century when a number of motels were built in the Humber Bay area. Watersports were enjoyed here during the summer and town council meetings were often held in the Humber Bay motels. Boat building was the earliest trade practiced in what would become the community of Humber Bay.
Humber Bay Park was developed by the former Metropolitan Toronto and Region Conservation Authority with 5.1 million cubic metres of lakefill, at a cost of $6.56 million. Lieutenant-Governor John Black Aird opened the park on June 11, 1984. Several habitat restoration projects have been initiated at Humber Bay Park, including the planting of Carolinian trees and shrubs, the establishment of wildflower meadows and the creation of a warm-water fish habitat and wetland on the east peninsula. The park is also a popular destination to view migrating birds.[2]

Mimico Cruising Club Lighthouses

The Eastern Gap Lighthouses were built in 1895 and located along waterway.[3] The larger of two lighthouses is a four storey structure and the smaller two storey building. Removed in 1973 during the widening of the Eastern Gap, both the large and small lighthouses were relocated to Marine Terminal 51 and offered to the Etobicoke Yacht Club. They were relocated to Humber Bay Park in 1981 and restored for use by the Mimico Cruising Club in 1982.[4]

Amenities

The park has a number of amenities such as picnic tables, trails, and a beach front. There are fly casting and model boating ponds and a fully accessible fishing pier. The Humber Bay Park Boating Federation and historic old Eastern Gap Lighthouse (c. 1895) are located at Humber Bay West, along with public boat launch ramps and moorings. Humber Bay Park East is home to Toronto's memorial to the victims of the bombing of Air India Flight 182.

Wednesday, June 21, 2017

MÔNG CỔ & NHỮNG THĂNG TRẦM LỊCH SỬ

Trước khi đến Mông Cổ, tôi đã cẩn thận đi đổi tiền, tất cả các ngân hàng ở Canada, kể cả những kiosk đổi tiền tư nhân đều lắc đầu nói không có.... Tôi lại tìm đến những công ty du lịch lớn nhỏ, hỏi xem có nơi nào tổ chức những chương trình đi tham quan bên ấy, nếu có cho tôi xin ghi danh tham dự (?). Họ cũng lắc đầu....!!! “Hình như you là người đầu tiên hỏi chuyện du lịch Mông Cổ thì phải, lâu nay có ai hỏi thăm nơi này đâu, vì không có nhu cầu nên chúng tôi không tổ chức, sorry nghen”
Vậy là tôi lên máy bay, lưng không có một xu tiền Mông Cổ, không ai đón, không biết sẽ đi đâu trong những ngày đó. Trong tay tôi chỉ có vài tài liệu sơ xài in từ internet xuống. Thôi kệ, tới đâu hay tới đó.
Chiếc máy bay nhỏ đưa tôi đến thủ đô Mông Cổ, một vùng đất rất ít du khách và gần như bị quên lãng của ngành du lịch. Sau đó thì tôi không có internet mấy ngày liền, nhiều bạn bè đã lo lắng không biết tôi có bị gì không? Có an toàn tánh mạng không? Có bị cướp bóc gì không? Thật ra trong những ngày đó, tôi vẫn an toàn, tôi đã làm được nhiều chuyện cần làm như đi tìm tài liệu trong các tiệm sách, thư viện, đi tham quan nhiều nơi tìm nguồn cảm hứng cho cột báo Bụi Đường Xa. Từ thành phố, tôi lên núi, vào công viên quốc gia, đi thăm hoàng cung, đi xem bức tượng khổng lồ của Thành Cát Tư Hãn, vào những ngôi chùa cổ, vào viện bảo tàng, đi cỡi lạc đà và mời chim ó đến đậu trên tay, đi shopping, đi tìm hiểu văn hóa ẩm thực của người Mông Cổ và đi lang thang... Mông Cổ có một lịch sử thăng trầm quá đỗi mà chỉ đến đây tôi mới ngã ngửa ra nhiều điều. Đất nước này đã bị nhóm theo Cộng Sản tự nguyện đem quê cha đất tổ của họ dâng cho Liên Xô vào năm 1924, kế đó người dân Mông Cổ bị bắt buột xử dụng mẫu tự Nga trong chữ viết, còn chữ truyền thống của họ bị cấm trong suốt gần bảy thập niên bị sát nhập làm một tỉnh bang của Liên Xô....
Tôi cũng đã bỏ nhiều thời gian đi nhiều tiệm sách hòng mong có thể hiểu được thêm về thân thế của một “vị khách” không mời mà đến của chúng ta - hoàng tử Thoát Hoan, con người ác ôn đã điều quân qua đánh Đại Việt trong thế kỷ thứ XIII. Nhân viên các tiệm sách lắc đầu không biết, nhưng cũng có một bà ra vẻ rành hơn, bà ta nói ông hoàng tử này sau khi thất bại hai trận ở phương nam, đã bị vua cha là Hốt Tất Liệt từ mặt, và hai cha con họ đã không gặp nhau cho đến khi Hốt Tất Liệt tức Kublai Khan (tức vua Nguyên Thế Tổ) qua đời.

LẬT NHANH NHỮNG TÀN THƯ
Theo những tài liệu khảo cổ thì văn hóa của người Mông Cổ đã hiện hữu từ 120,000 năm trước Công Nguyên. Người tiền sử Mông Cổ có tục chôn xác chết vào các nấm mộ vuông hoặc mộ tròn xếp bằng đá tảng. Khi chưa biết rèn vũ khí bằng kim loại, họ dùng xương thú để làm vũ khí, trang sức và chôn theo khi chết. Xã hội quân chủ có vương, có tôi và nô lệ đã bắt đầu hình thành từ thế kỷ thứ III trước Công Nguyên cho đến thế kỷ XII sau Công Nguyên. Trong 1500 năm đó, người ta tin là đã có sự hiện hữu của người Thổ Nhĩ Kỳ tại đây vì các nhà khảo cổ cũng đã khai quật được nhiều dấu vết của văn hóa Thổ từng phát triển rất mạnh như nhiều đền thờ, nhiều ngôi mộ vương giả... Đây cũng là điều người ta tin rằng người Thổ đã thiết lập được triều chính ở đây khoảng vài trăm năm. Chính quyền Thổ Nhĩ Kỳ đã bảo trợ cho phòng triễn lãm văn hóa Thổ trên đất Mông Cổ này (tôi sẽ tìm hiểu sau để xem trùng với giai đoạn di cư và lánh nạn nào trong lịch sử Thổ Nhĩ Kỳ) . Thế kỷ XII trở về trước, Mông Cổ có nhiều vương quốc nhỏ kiểu sứ quân, và họ đánh nhau từ đời này qua đời khác.

Đến cuối thế kỷ XII, có một sứ quân rất giỏi võ và binh lược ở vùng Dadal Sum (ngày nay là Deluun Boldog). Ông ta và đội quân này đã lần lượt đánh bại và thu phục hết tất cả những nhóm nhỏ yếu kém khác, gom tất cả đất đai vào thành một nước Mông Cổ rộng lớn. Triều đình Mông Cổ đầu tiên được ra đời vào năm 1206, đứng đầu và xưng hoàng đế là Thành Cát Tư Hãn (Chinggis Khan). Đây là một nhân vật đã đã gây nhiều rúng động và đau thương cho nhiều quốc gia đang thanh bình thuở ấy, từ Âu sang Á. Nhưng dù muốn - dù không, các học giả quốc tế từ sử học cho đến quân sự ngày nay đều phải công nhận đây là nhân vật nổi bật nhất của thiên niên kỷ và họ so sánh Thành Cát Tư Hãn không khác gì những nhân vật quân sự lẫy lừng khác của nhân loại như Alexander Đại Đế hoặc Napoleon về sau này. Ông ta đã có nhiều chiến thắng vang lừng nhờ khả năng lãnh đạo, nhờ vào một đầu óc siêu phàm với binh lượt giỏi, tài phi ngựa, bắn cung trăm mũi trúng trăm cái và đánh kiếm giỏi hơn tất cả lính tráng dưới quyền..... Thành Cát Tư Hãn trở thành tướng tài, vua giỏi nhờ sống trên mình ngựa nhiều hơn sống trong lều. Cuối đời ông ta lại ngã ngựa và chết vào năm 1227, thọ 65 tuổi. Nhiều tài liệu ước chừng trọn cuộc đời của bạo chúa, ông ta đã giết hết 40 triệu người, tức là khoảng 10% dân số trên quả địa cầu thời bấy giờ. Ông ta chết đi, nhưng tham vọng đã có từ trong huyết thống truyền đến các đời sau, đội quân viễn chinh Mông Cổ mỗi lúc càng thêm thiện chiến và hung bạo, nhất là khi họ ngồi trên mình ngựa.... Vó ngựa họ đi đến đâu, người dân vô tội ngã xuống, máu chảy, đầu rơi.... Các vương quốc từ Châu Âu đến Châu Á, hễ nghe đến quân viễn chinh Mông Cổ là hồn xiêu phách lạc....

THẤT BẠI Ở VIỆT NAM VÀ ĐÔNG NAM Á
Một trong những hậu duệ thành công trong binh lược và nối chí Thành Cát Tư Hãn là Hốt Tất Liệt (Kublai Khan). Hốt Tất Liệt là cháu nội của Thành Cát Tư Hãn, là người đã mở rộng lãnh thổ của Mông Cổ xuống đến miền bắc Trung Hoa, sau khi đánh bại nhà Tống. Hốt Tất Liệt đã tự xưng hùng một cõi riêng, chọn Daidu (nay là Bắc Kinh) làm kinh đô, lập nên một triều đại mới là nhà Nguyên Mông, trị vì trên ngai vàng 34 năm. Lần đầu tiên trong lịch sử Trung Hoa, có một triều đại không phải người Trung Hoa được lập nên. Trong thời gian này, Hốt Tất Liệt luôn mang mộng đánh xuống phía Nam và phía Đông Nam của Châu Á. Triều đình Nguyên Mông đã ba lần gởi quân qua đánh Đại Việt đều thất bại cả ba (năm 1258, 1285 và 1287 đến 1288). Hai lần tấn công sau đều do đích thân hoàng tử Thoát Hoan, con trai thứ chín của Hốt Tất Liệt (hay còn gọi là Torooth hay Toghan) đem quân đi, nhưng đều thất bại. Cũng vì thất bại này mà Hốt Tất Liệt đã từ mặt, không gặp con cho đến khi ông ta qua đời. Nước Mông Cổ mở rộng ở phía bắc, lấn vào lãnh thổ nước Nga; phía tây họ sang tận Địa Trung Hải, Hungary, Ba Lan, Áo... và khu vực Trung Đông; phía nam họ đã lấy trọn nước Trung Hoa..... Họ rất muốn thôn tính cả Việt Nam, Đại Hàn, Nhật Bản và Java.... ở Đông Nam Á. Tuy nhiên những lần tấn công vào Việt Nam, Nhật Bản, Java (Indonesia), Miến Điện, đoàn quân chinh nam phạt Bắc hung hăng, mạnh mẽ ấy đều phải rút quân trong thất bại. Ở Nhật, họ đã phải chùn bước trước các kiếm sĩ Samurai không bao giờ sợ chết. Ở Việt Nam, đại tướng Trần Hưng Đạo với tài binh lượt hải quân trên sông Bạch Đằng và bộ binh, tấn công và rút đi đúng lúc đã làm quân lính của Thoát Hoan không có cơ hội cướp bóc lương thực, cả ba lần xâm chiếm đều đã thua cả ba. Khi vào thăm những viện bảo tàng và tiệm sách tại thủ đô Ulaanbaartar, tôi luôn bị mất nhiều thời gian vì tìm rất khó ra những chi tiết ghi rõ các thất bại này. Nói một cách khác, phải đối chiếu nhiều tài liệu, tôi mới thấy được những thất bại ấy được ghi rất mập mờ, rời rạc trong các tài liệu lịch sử của họ. Nếu như các chiến tích của hoàng gia Đại Mông (Great Mongolia) trên đất của Nga, hay ở Trung Hoa luôn được họ ca tụng trong viện bảo tàng thì sang đến khu vực Đông Nam Á, họ chỉ minh họa và ghi chú rất sơ sài một cách rất chung chung, rằng đoàn quân thiện chiến Mông Cổ đã đặt chân đến cả những nơi này trên bản đồ thế giới, còn thắng hay thua thì không ghi rõ. Lục tung những cuốn sách khác được bán trong các tiệm sách, tôi mới thấy có vài cuốn ghi những thất bại của họ tại Đông Nam Á, nhưng lại thiếu bản đồ minh họa. Nếu một người ngoại quốc không đọc thêm, không rành về lịch sử Châu Á và không có điều kiện để đối chiếu nhiều tài liệu khác nhau, họ sẽ dễ bị nhầm lẫn, tưởng rằng sự "đặt chân đến" cũng là "chiến thắng" của Đại Mông Cổ ở Đông Nam Á (tức là Việt Nam, Nhật, Nam Dương, Miến Điện). Trong tiếng Anh, điều này gọi là misleading rất tai hại.


LỊCH SỬ MÔNG CỔ CẬN ĐẠI
Hốt Tất Liệt là người xâm chiếm Trung Hoa, lập ra nhà Nguyên Mông, tự xưng hoàng đế vào năm 1271, tiêu diệt dứt điểm nhà Tống vào năm 1279. Tuy nhiên sau khi Hốt Tất Liệt (tức vua Nguyên Thế Tổ) qua đời, nhà Nguyên Mông từ từ suy yếu. Các cuộc khởi nghĩa sau đó đã nổi lên khắp nơi ở Trung Hoa. Quân đội của nhà Minh đã trở nên mạnh mẽ, được dân chúng ủng hộ nhằm mong khôi phục lại nước Trung Hoa. Sau nhiều lần thua trận, triều đình Nguyên Mông phải rút về lại vùng đất Mông Cổ xưa. Nhà Minh trở thành triều đại chính thức tại Trung Hoa sau đó. Nước Trung Hoa đã trở lại một triều đình có người Trung Hoa làm vua. Kể từ năm 1370, khi nhà Nguyên Mông rút về lại Mông Cổ, triều đại này vẫn tiếp tục nối ngôi nhau làm vua trên vùng đất quê hương của họ. Gần ba thế kỷ tiếp theo, hầu như không còn những cuộc chiến tranh nào lớn giữa nhà Nguyên Mông (đã rút về Mông Cổ) với nhà Minh (ở Trung Hoa) nữa.

Đầu thế kỷ XVII, năm 1644, khi triều đình Mãn Thanh lật đổ nhà Minh, lên nắm quyền hành ở Trung Hoa, đã có nhiều cuộc chiến tranh giữa quân Mãn Thanh và Mông Cổ. Quân Mãn Thanh lúc này đang rất mạnh mẽ, dẫn đến việc Mông Cổ phải thần phục triều đình Mãn Thanh . Mông Cổ từ đó bị xem như một thuộc địa của Trung Hoa từ thế kỷ XVII (khoảng năm 1635). Cũng vì để tránh sự trở lại mạnh mẽ của người Mông, triều đình Mãn Thanh đã chia đất nước Mông Cổ ra làm hai phần để dễ cai trị, gồm Nội Mông - Inner Mongolia (là khu vực gần kinh đô Bắc Kinh, nơi có Vạn Lý Trường Thành lấn vào), và Ngoại Mông - Outer Mongolia (là khu vực ở xa phía bắc sát biên giới Nga, hiện nay là xứ Mông Cổ). Ngoại Mông thì vẫn giữ được nhiều phong tục và thuần chủng vì được tạm xem là xứ tự trị, trong khi Nội Mông chỉ còn là cái tên. Từ thế kỷ XVIII, triều đình Mãn Thanh đã đưa người Trung Quốc đến Nội Mông sinh sống nhằm đồng hóa người Mông Cổ theo thời gian . Nội Mông hiện nay vẫn bị xem là lãnh thổ của Trung Quốc, chỉ còn 17% người gốc Mông Cổ nhưng những người thật sự rành tiếng nói, biết đọc, biết viết, có hiểu biết về văn hóa Mông Cổ có thể còn thấp hơn rất nhiều so với báo cáo của nhà nước Trung Cộng.
Đầu thế kỷ XX đã có nhiều khủng hoảng và thay đổi chính trị với nhiều quốc gia trên thế giới. Triều đình Mãn Thanh sụp đổ năm 1911 là một cơ hội cho Mông Cổ (ở đây chỉ có Ngoại Mông) trở nên độc lập, tuy nhiên sau đó nhà nước mới lên nắm quyền là Trung Hoa Dân Quốc đã tuyên bố, Mông Cổ vẫn là một tỉnh của Trung Quốc, rằng Trung Hoa sẽ dùng mọi biện pháp quân sự để giữ Mông Cổ ở lại. Điều này đã khiến Mông Cổ đã cầu cứu quốc tế can thiệp như Hoa Kỳ, Pháp, Nhật, Anh. Tuy nhiên không một quốc gia nào muốn đụng độ với Trung Hoa. Một sứ giả sau đó đã được gởi sang St. Petersburg cầu cứu Soviet can thiệp. Đảng Cộng Sản Bolsheviks - Cộng Sản Nga nhận lời và Hồng Quân đã tiến vào Mông Cổ. Một cuộc chiến tranh đầy máu và chết chóc đã diễn ra giữa hai thế lực là Hồng Quân Soviet (với hậu thuẩn của nhiều nhóm dân tộc yêu nước Mông Cổ) chống lại quân đội Trung Hoa vào cuối năm 1920 và đầu năm 1921. Kể từ 1921, Mông Cổ đã được Liên Xô bảo vệ khỏi sự xâm lăng của Trung Hoa Dân Quốc và cả Trung Cộng sau này. Theo nhiều tài liệu tôi được xem trong thư viện Ulaanbaartar thì Cộng Sản Nga đã giúp trong toan tính vì Bolsheviks đã mang ý định thôn tính đất nước này từ lâu. Những thành phần yêu nước người Mông Cổ theo chủ nghĩa dân tộc và bảo hoàng đã bị gián điệp Nga và phe Cộng Sản Mông Cổ thủ tiêu dần (Thật giống như đảng Cộng Sản Việt Nam đã thủ tiêu các thành phần yêu nước kháng chiến thời Việt Minh, thì ra đây cũng là thủ đoạn chính trị của cộng sản quốc tế thời ấy). Nhà vua và hoàng hậu Mông Cổ cũng bị đầu độc chết. Phe “cách mạng” lúc này chỉ còn toàn những thành phần cộng sản thân Nga. Chế độ quân chủ, phong kiến cuối cùng chấm dứt khi nhà vua Bogd Khan bị đầu độc chết dần mòn mà tài liệu của phe "cách mạng" gọi đó là bệnh ung thư. Nhà vua vừa chết thì phe “Cách Mạng” cho ra đời ngay lập tức Nhà nước Cộng Hòa Nhân Dân Mông Cổ trong năm 1924 với toàn những thành phần cộng sản bù nhìn do Liên Xô dựng lên. Cũng ngay trong năm đó, nhà nước bù nhìn và thân Nga này ra quyết định sát nhập nước Mông Cổ để trở thành một tỉnh bang của Liên Xô trước sự ngỡ ngàng của dân chúng. Đất nước và dân tộc Mông Cổ (ở đây là Ngoại Mông) vừa được độc lập khỏi tay triều đình Mãn Thanh sau gần 3 thế kỷ, đã lại một lần nữa mất nước vào tay Cộng Sản Liên Xô. Trong gần bảy thập niên kế tiếp (từ 1924 - 1989), văn hóa và lịch sử của Mông Cổ bị tàn phá bởi các chính sách đàn áp của Liên Xô. Chữ viết mẫu tự kiểu Nga bị bắt buột dạy trong nhà trường, chữ viết truyền thống bị cấm, dân chúng sống trong các ngôi lều Ger cổ truyền bị gom vào trong những cao ốc xấu xí không mỹ thuật gọi là nhà ở tập thể để dễ bề kiểm soát (những kiểu cao ốc xấu xí kiểu như thế này ngày nay vẫn còn thấy rất nhiều ở Nga mà người Nga khôi hài gọi đó là "kiến trúc xấu xí thời Stalin hay thời Soviet"). Liên Xô đã đổ dồn rất nhiều tiền bạc về vùng đất này hòng biến Mông Cổ ra một sắc thái văn hóa kiểu Nga vô sản (chứ không phải phong cách lịch lãm của thời Sa Hoàng). Các rạp hát, trường học, doanh trại quân đội, nhà tập thể, cửa hàng hợp tác xã mậu dịch XHCN. Nhiều “tượng đài liệt sỹ” đã mọc lên.... rất xấu xí, thiếu mỹ thuật, khô cứng, giống như những loại “tượng đài” mọc lên ở Việt Nam sau 1975, và một số tôi vẫn còn thấy được ở Nga ngày nay và Đông Âu. Dường như có một “style” riêng dành cho những tượng đài của cộng sản...... Những giá trị văn hóa cổ của Mông Cổ, kiến trúc chùa chiền, Phật Giáo bị tàn phá và bách hại. Một phụ nữ trên 50 tuổi cho tôi biết, bà chỉ được tỏ tường lịch sử Mông Cổ sau năm 1990, khi đất nước bà được độc lập, chứ thời mất nước về tay Liên Xô, học sinh bị cấm tìm hiểu về lịch sử tiền nhân của họ. Liên Xô lo sợ rằng lòng tự hào và tính hiếu chiến trong máu người dân Mông Cổ sẽ trỗi dậy và họ sẽ làm những cuộc cách mạng giải phóng đất nước.
Năm 1989, bàn cờ chính trị thế giới lại một lần nữa đảo chiều, Cộng Sản Liên Xô bị sụp đổ hoàn toàn. Cùng với nhiều quốc gia từng bị Liên Xô chiếm đóng trước đó như Ukraine, Estonia, Lithuania, Latvia, Nhà nước Dân Chủ Mông Cổ... đã tuyên bố độc lập vào năm 1990 dưới sự giám sát của Cao Ủy Liên Hiệp Quốc. Ngày nay, Mông Cổ là một nước có nền dân chủ và tự do sau gần ba thế kỷ bị triều đình Mãn Thanh đô hộ và gần bảy thập niên mất nước về tay Cộng Sản Liên Xô....

VĂN HÓA ẨM THỰC
Mông Cổ có những thảo nguyên bạt ngàn, rộng lớn. Trong khi cả nước chỉ có tròm trèm 3 triệu dân thì lại có 43 triệu con thú thả rong cung cấp thịt và sữa. Đó là dê, bò, cừu, ngựa, lạc đà. Rừng nguyên sinh ở Mông Cổ có nhiều kỳ hoa dị thảo cùng muôn thú và hầu như còn nguyên vẹn chưa bị con người tàn phá. Người Mông Cổ làm nghề chăn nuôi rất khỏe, họ không phải tốn kém nhiều công sức hay chi phí thực phẩm. Họ làm mà như không làm. Các con thú này cứ thả rong ăn cỏ trên núi và các thảo nguyên bạc ngàn, tối tự động về lại chuồng. Không tốn kém gì mà chủ nông trại vẫn có thể bán thịt ra liên tục. Theo những người bạn Mông Cổ địa phương tôi được tiếp xúc, họ nói thức ăn ở đây rất rẻ, chưa bao giờ dân chúng bị đói kém cả. Theo thời giá hiện nay thì 1kg thịt có giá khoảng từ $3 đến $4.00 USD (ba đến bốn Mỹ Kim). Ngoài ra tôi cũng thấy thịt heo hoặc gà được bán trong siêu thị và các nhà hàng giá rất rẻ. Các loại thịt nói chung ở Mông Cổ có quá nhiều mỡ. Theo truyền thống, họ ăn mỡ động vật nhiều vì cần năng lượng chống chọi với cái lạnh khi sống trong các lều cổ truyền Ger hoặc phi ngựa trên các thảo nguyên. Tuy nhiên đó chỉ là thói quen đã ăn vào trong phong tục, tập quán của văn hóa ẩm thực từ xa xưa. Khoảng một nửa dân số Mông Cổ hiện nay đang dồn về thủ đô Ulaanbaartar, sống chen nhau trong các apartment có máy sưởi và sinh hoạt theo nếp sống thành thị như các quốc gia đang phát triển khác trên thế giới. Cơ thể họ không cần phải hấp thụ lượng mỡ nhiều như xưa nữa. Từ cách ăn uống đã thành nếp, từ môi trường sống ngày nay đã thay đổi, tôi thấy nhiều người Mông Cổ ở thành thị đang bị tình trạng béo phì !

Khi chuyện trò với các bạn người địa phương mà tôi kịp làm quen, tôi có nhắc chuyện thức ăn Mông Cổ chắc là cay lắm, ví dụ món lẩu cay (Hot Pot) mà ở Canada, Hoa Kỳ hoặc sang Trung Quốc vẫn thấy bày bán. Tất cả mọi người họ đều tròn mắt ngạc nhiên. Họ ngạc nhiên vì họ không ăn cay bao giờ. Họ còn nói nếu đem so ẩm thực của Mông Cổ với các nước khác thì ẩm thực Mông Cổ không dùng gia vị, nêm rất ít muối (vì Mông Cổ không có biển, muối khan hiếm), ai không ăn quen sẽ khó nuốt.... Tôi liền tìm những tấm hình chụp món lẩu - Mongolia Hot Pot trong điện thoại đưa cho họ xem. Ai xem hình cái lẩu cay cũng đều cười ha hả, họ nói đây là thức ăn của người Trung Quốc đó, chứ người Mông Cổ không hề ăn món lẩu, họa chăng là món mì nước nóng mà họ gọi là hot noodle soup (hot đây là nóng của nhiệt độ chứ không phải cay)..... Để cho vững tin hơn, tôi đã một lần nữa níu áo anh quản lý nhà hàng khách sạn nơi tôi đang ở, hỏi anh ta cho ra lẽ. Dân nhà nghề trong ẩm thực này nhìn hình rồi tưởng tôi thèm ăn lẩu cay, anh ta bảo tôi cứ đi xuống phố, vào các nhà hàng tàu, sẽ có ăn !!! Tôi mỉm cười cám ơn và giải thích rõ hơn tại sao tôi hỏi. Vậy là biết rồi, từ nay tôi đã rõ, món Mongolia Hot Pot cay nồng, nhiều gia vị đến tê đầu lưỡi kia không hề có trong danh sách ẩm thực của người Mông Cổ, cả hình thức cho đến cách nấu và mùi vị. Hy vọng có thời gian, tôi sẽ làm một phóng sự riêng về đề tài này một cách chi tiết hơn, biết đâu đàng sau đó là những lý do hay những hiểu lầm thú vị khác nữa từ trong văn hóa, lịch sự và chính trị.
Những món ăn phổ biến trong văn hóa ẩm thực Mông Cổ có thể kể là Khorkhog (thịt cừu BBQ), Buuz (bánh xếp hấp nhân thịt), Boodog (ragout dê), Tsuivan (mì xào), Guriltai Shul (mì nước ăn nóng nấu với bất cứ loại thịt nào, nước dùng có pha sữa), Budaatai khuurga (cơm chiên thập cẩm), Chanasan Makh (xương hầm), Airag (sữa nóng).... Theo cá nhân tôi nhận xét, thịt bò ở đây có mùi nồng và nặng như thịt cừu, rất khó ăn, nhất là khi các món ăn không dùng gia vị. Nếu quý vị đến thủ đô Ulaanbaartar, sau khi tìm hiểu cho biết văn hóa ẩm thực Mông Cổ, quý vị cũng có thể thay đổi xen kẻ khẩu vị bằng thức ăn Tàu hay Hàn, Nhật, Ấn Độ hoặc Tây Phương cho đỡ ngán. Tại thủ đô có nhiều nhà hàng của nhiều sắc dân cho du khách lựa chọn.

THỜI TRANG VÀ NGHỆ THUẬT
Theo những tài liệu sách vở và trưng bày trong viện bảo tàng thì trang phục cổ truyền của người Mông Cổ rất nhiều màu sắc cùng với những món trang sức bằng đồng hoặc bạc như kiềng đeo cổ, bông tai, vòng đeo tay, giây thắt lưng.... Tuy nhiên ngày nay du khách chỉ còn thấy những bộ áo đẹp ấy trong viện bảo tàng, trên các sân khấu trình diễn nhạc cổ truyền. Tôi đi ra ngoại ô, vào các gia đình vẫn còn sống trong các căn lều thấy họ đã không còn mặc y phục cổ truyền nữa. Từ thôn quê cho đến thành thị đều mặc jean, áo thun, áo chemise.... như ở phương tây. Một cái gì đó tiếc nuối cứ dâng lên trong tôi. Khi mới đến tôi đã thấy hụt hẫng vì họ xài chữ viết theo mẫu tự Nga, giờ đây lại mất dáng các trang phục rất đẹp mà tôi từng được xem trên sách báo. Cuộc sống thành thị hóa đã khiến ở nhiều vùng địa lý khác nhau trên địa cầu lại na ná giống nhau. Điều đó gây cho chúng ta nhiều tiếc nuối.

Trong văn hóa Mông Cổ có rất nhiều trang phục nhiều màu sắc, phong phú. Du khách khi đến Mông Cổ bắt buột phải tìm cách xem cho được những buổi trình diễn nghệ thuật cổ truyền. Họ có những nhạc cụ cổ truyền như đàn Morin Khuur, đàn Yatga, đàn Ikhel, trống, khèn.... Người Mông Cổ có kỹ thuật hát đồng song thanh ra hai giọng vô cùng độc đáo. Cũng từ đề tài này mà tiến sĩ Trần Quang Hải đã làm một nghiên cứu công phu cùng với kỹ thuật học cách hát đồng song thanh nhanh nhất. Tôi được biết chính quyền Trung Cộng đã từng muốn mạo nhận nghệ thuật này là của họ. Họ muốn đệ trình lên UNESCO xin được công nhận là giá trị văn hóa phi vật thể của Trung Quốc. UNESCO có chấp nhận, hay có nhìn ra sự xấp ngửa, tráo trở của vấn đề hay không? Tôi không được rõ, chỉ biết điều này đã gây phản ứng dữ dội của giới am hiểu nghệ thuật và người dân tại đây... 

ĐẠO PHẬT VÀ NHỮNG NGÔI CỔ TỰ
Quanh thủ đô Ulaanbaartar có những ngôi chùa cổ nổi tiếng như Gandantegchinlen Monastery, Choijin Lama Temple, Manzushir Monastery.... Tuy nhiên các ngôi chùa đều ở cách xa nhau. Quý vị phải tự túc chuyện di chuyển vì không thể dùng giao thông công cộng. Xe bus tại thủ đô rất thưa thớt, hoàn toàn không đến những nơi cho du khách tham quan về văn hóa và lịch sử. Nếu cần, quý vị chỉ có cách nhờ khách sạn thuê hẳn một tài xế có xe đi và về trong ngày, đi vài ngày về những vùng quê, lên núi.... đi một nhóm sẽ có giá rẻ hơn đi một người. Phần lớn người Mông Cổ theo Phật Giáo Mật Tông. Phật Giáo Mật Tông được truyền đến Mông Cổ trực tiếp từ Tây Tạng. Tại Mông Cổ ngày nay có trên 80% dân số theo Phật Giáo, phần còn lại theo các tôn giáo khác như Shaman (một tôn giáo cổ thờ khấn trời đất), đạo Ba Hai (có ở miền Nam Việt Nam), đạo Hồi, Chính Thống Giáo (Orthodox) và một số người không mang tín ngưỡng.

Hôm nay tôi đi thăm một cổ tự (Manzushire Monastery) từng là một tu viện Phật Giáo Mật Tông, cách thủ đô Ulaanbaartar 50km, xây năm 1733. Cổ tự này từng có 20 ngôi điện chùa, là nơi tu học cho khoảng từ 300 đến 1000 nhà sư. Tuy nhiên năm 1937, bộ đội và công an cộng sản Liên Xô đã mở chiến dịch đốt và phá sập hoàn toàn ngôi chùa, hơn 250 vị Lạt Ma đã bị trói và bị đem ra bắn chết !!!.... Sau khi Mông Cổ tuyên bố độc lập vào 1990, ngôi chùa đã được trùng tu, nhưng hiện giờ chỉ mới làm được một căn duy nhất với bàn thờ Phật Tổ đơn sơ. Phật Tử và du khách đến đây tưởng niệm những vị đã chết vì bạo quyền cũng như chứng kiến một bằng chứng tôn giáo bị đàn áp.
Tôi được đi theo một gia đình bạn người Mông Cổ. Trước khi vào chùa, chúng tôi ngồi picnic với nhau bằng thức ăn bạn tự nấu, có trà sữa dê nóng. Chẳng biết duyên từ đâu an bài cho tôi được gặp các bạn ở đây. Chúng tôi khác nhau từ ngôn ngữ, văn hoá, thậm chí còn có thể dị biệt lẫn nhau từ lịch sử thảm thương... Có một vài điểm chung để chúng tôi thành bạn, đó là khát vọng tự do dân chủ, nhìn rõ bản chất Cộng Sản Nga hay Cộng Sản Trung Quốc đều giống nhau từ bao đời nay là luôn muốn thôn tính các nước yếu thế. Bạn cũng nói rằng người Cộng Sản Mông Cổ đã từng bán nước Mông Cổ cho Soviet, rằng đừng ai tin người Cộng Sản khi họ mở miệng nói yêu nước...
Cộng sản thời nào cũng vậy, cộng sản ở đâu cũng thế !!! Bạn vừa nói vừa đứng lên, kéo tôi vào chùa !!!
Nơi tôi đang đứng từng là một tu viện rộng lớn với hơn 20 ngôi điện chùa. Ngày nay chỉ có một gian được phục dựng tạm bợ trên một vùng gạch đổ nát còn đầy oan khiên. Vùng đất thiêng này, nơi hơn 250 vị Lạt Ma tử vì đạo, các vị đã để lại một năng lượng rất mạnh. Tôi đã cảm giác một niềm hạnh phúc, xúc động nhưng hạnh ngộ trong bình an, như được che chở, một cảm giác rất lạ. Cảm giác ấy theo tôi hoài cho đến khi tôi ra xe, rời khỏi ngọn núi !!!

SA MẠC VÀ CÁC CÔNG VIÊN QUỐC GIA
Từ thủ đô, lái xe khoảng 350km là sa mạc Elsen Tarsakhai. Xa hơn nữa là sa mạc Gobi cách thủ đô khoảng 90 phút bằng máy bay. Quý vị không thể tự đi đến đây mà phải theo một sự hướng dẫn của các công ty du lịch. Tôi đã bỏ qua không đi sa mạc cát Gobi này vì chuyến đi tốn quá nhiều thời gian. Dù sao tôi cũng đã một lần đến được sa mạc Safari ở Trung Đông rồi. Lần này thôi đành lỡ duyên với Gobi ở Mông Cổ, xin hẹn vào chuyến sau. Các chuyến đi của tôi không bao giờ trọn vẹn, hả hê, ê chề, thừa mứa mà luôn có những nỗi luyến tiếc cùng cảm giác “chưa đủ”. Tôi tin là khi còn luyến tiếc thì sẽ có duyên quay trở lại. Tôi rất muốn lần tới sẽ được tham gia vượt sa mạc Gobi nổi tiếng một lần, thăm hồ Khuvsgul trong vắt, cũng như được đến thăm vùng Nội Mông (Inner Mongolia) hiện nay đang bị Trung Cộng chiếm giữ.

Quanh thủ đô có hai công viên quốc gia lớn là Khustai và Terelj. Gọi là công viên quốc gia nhưng thật ra là những ngọn núi thoai thoải với thảm cỏ xanh ngắt vào mùa xuân. Tôi đã đến cả hai, đứng nhìn cái vắng lạnh của đầu xuân, cỏ chưa mọc đủ xanh, nhưng các loại cầm thú như dê, bò, cừu, ngựa đã chạy đi tìm ăn. Một phong cảnh rất thanh bình và nhẹ nhàng. Những thảo nguyên này cho tôi cảm giác xúc động như khi tôi đến Ái Nhĩ Lan, Tô Cách Lan, Tân Tây Lan, Úc Đại Lợi.... Ở đây, cảm giác thiên nhiên thật bao la, con người thật bé nhỏ, những sân hận ở cuộc đời ồn ào đâu đó như chẳng còn vương chút nào trong tiềm thức.... Đã đến những thảo nguyên bạt ngàn, núi trùng núi này, tôi mới tin được rằng có nhiều người đã gắn bó với thiên đàng hạ giới ở đây, họ lên non trú ngụ từ nhiều đời nay, bởi với họ, tất cả những ồn ào nơi phố thị đã không thể quyến rũ họ được....!!!

THỜI THẾ TẠO ANH HÙNG
Mông Cổ là một đất nước có quá nhiều thăng trầm trong lịch sử của họ, kể từ thời Trung Cổ cho đến cận đại. Những thế kỷ sau này cho đến thời cận đại, họ chỉ có đau thương nên hiện nay từ phi trường thủ đô Ulaanbaartar đi ra khắp nơi, đâu đâu cũng thấy đất nước này tự hào với quá khứ, với lịch sử là Thành Cát Tư Hãn và Hốt Tất Liệt trong thế kỷ thế kỷ XIII. Tượng Thành Cát Tư Hãn cao 40m làm bằng thép, ông ta trong tư thế chuẩn bị ra trận oai phong, có thể đi thang máy lên tận đỉnh của bức tượng. Vị trí này cách thủ đô 60km, không có phương tiện công cộng đến. Muốn đi phải thuê xe của khách sạn hoặc của các công ty du lịch. Một bức tượng khác của Thành Cát Tư Hãn nằm ngay trung tâm thành phố (Chinggis Khan Square), lúc nào cũng có lính canh gác nghiêm ngặc, không ai được đến quá gần.

Khi vào viện bảo tàng, người bạn Mông Cổ hỏi tôi có muốn thuê áo bào mà mặc chụp hình đóng giả đại đế Chinggis Khan không (?). Tôi đã lắc đầu, nếu họ có áo quần dân giã thì tôi mặc cho vui, còn mặc y phục hoàng gia Khan thì tôi từ chối. Lý do vì hoàng gia này đã qua Đại Việt xâm lăng và tạo ra nhiều tội ác trong lịch sử cho tổ tiên Việt Nam của tôi. Trước khi đi tôi đã hứa với chị bạn là không đến nước họ bằng hận thù lịch sử..... Thưa phải, tôi đã đến đây như một thiền sinh, như một kẻ hậu sinh đi tìm sách để học lịch sử, tôi luôn hòa đồng với các nếp sống của người địa phương, tôn trọng văn hóa của họ, chỉ riêng có chuyện mặc áo hoàng bào của Khan Dynasty thì không, bởi vì đó là lòng tự trọng dân tộc !!!
Lịch sử đau thương mà hoàng tử Thoát Hoan vâng lệnh vua cha Hốt Tất Liệt đem đến cho Đại Việt đã trên bảy thế kỷ. Đó là đỉnh điểm khi tổ tiên họ hung tàn, bạo lực nhất từ Âu sang Á..... Nhưng một thời gian không lâu tiếp theo đó là cả đất nước và dân tộc Mông Cổ trầm luân nơi vực sâu. Họ bại trận với nhà Minh ở Trung Quốc phải rút về cố quận, phải thần phục triều đình Mãn Thanh từ năm 1635 – 1911(kéo dài 276 năm), mất nước về tay Liên Xô từ 1924-1989 (kéo dài 65 năm)....
Chia tay các bạn bè người Mông Cổ, họ xiết tay tôi nơi tận cửa ra phi cơ.... Lời tâm sự hôm qua của bạn nơi nền gạch đổ nát tại cổ tự Manzushire còn văng vẳng bên tai: “Năm 1911 - chúng tôi phải đổ máu mới thoát được Trung Hoa. Năm 1989 – chúng tôi cũng phải đấu tranh và làm cuộc cách mạng với đám bán nước Cộng Sản người Mông Cổ, đồng thời tìm sự hậu thuẫn của cộng đồng quốc tế mới thoái ra khỏi Liên Xô... Khi vận nước quá mạt thì anh hùng xuất hiện. Trời Phật còn thương đất nước chúng tôi!!!”
Thời thế tạo anh hùng, đúng rồi, Việt Nam cũng sẽ không ngoại lệ !!!
Tôn Thất Hùng – Tháng Tư 2017



Tuesday, June 20, 2017

Tại sao tôi mất Huế ? Chúng ta mất miền Nam Việt Nam



Tôi học cùng lớp với Trọng Hê và Phú Rổ, hai tên du đãng nổi tiếng quậy phá của đất Thần Kinh. Hôm đó chúng trừng mắt nghênh nhau suốt buổi học. Để chứng tỏ lòng can đảm Trọng Hê tự đấm vào mũi vài cái làm máu tuôn xối xả, Phú Rổ tự đâm bút bi vào cánh tay làm máu ra lai láng. Tan học hai anh quần nhau một trận tại sân bóng rổ để tranh giành thứ bậc anh chị học đường trước sự cổ võ của đám học sinh.
Tính tôi vốn hiền hòa không thích chuyện ẩu đả nên cũng chẳng biết ai thắng ai thua. Ngoài việc đi học tôi chẳng có chuyện gì làm nên thường diện bộ áo quần mới nhất theo dòng người bát qua phố Trần Hưng Đạo xuống đường Phan Bội Châu rồi dừng lại trước phòng vẽ Ngọc Duy gọi anh Do, người bạn cùng lớp, ra tụ tập cùng đám bạn đứng uốn éo cười đùa nhìn người đi qua đi lại và mong cho ai quanh phố nhìn thấy mình. Trong số bạn học có anh Hoàng con nhà giàu có được chiếc xe gắn máy hiệu Ichia thường đèo tôi lạng một vòng quanh phố rồi dừng lại ngồi trước quán café Lạc Sơn để đợi người đẹp tên Nga, con của ông chủ rạp ciné Tân Tân, người yêu trong mộng của anh ta. Mỗi lần cô Nga xuất hiện thì mặt Hoàng tái ra, cô vô tình càng đi đến gần thì anh ta càng run và trong khoảng thời gian tôi đi chơi chung với Hoàng tôi chưa bao giờ thấy Hoàng mở miệng nói gì với cô Nga, còn về sau thì tôi không biết. Thấy bạn có được tình yêu tuy một chiều nhưng quá dữ dội tôi cũng tìm đối tượng để yêu cho biết mùi vị tình yêu. Đối tượng để yêu của tôi Hương, cô bé học cùng trường có đôi mắt bồ câu đen nhánh. Nhưng một hôm chị Tâm, người hàng xóm, cũng có đôi mắt bồ câu đen nhánh giống Hương chửi chồng và trợn đôi mắt to lên hung dữ như mắt cú làm cho óc thẩm mỹ trong tôi thay đổi và tôi quên mất Hương hồi nào không hay.
Tôi lớn lên trong thành phố Huế thanh bình trong lúc cả nước đang chìm đắm trong chiến tranh mà tôi nào có hay biết. Các bạn học tôi ngày nào cũng bàn về ban nhạc The Beatles giọng ca của Fransoir Hardy hoặc Silvie Vartan, còn tôi mãi mơ mộng theo hình ảnh mấy anh tóc dài giang hồ lãng tử hippies tận trời Tây.
Năm đó tôi không thể bình yên tiếp tục học hành vì các anh sinh viên học sinh ngày biểu tình ngày bãi học. Cuộc đời tôi đi vào một khúc quanh vì 2 thứ thôi thúc tính giang hồ trong tôi mà nói ra chẳng ai tin. Đó là bản nhạc bằng Anh Ngữ tên là gì tôi không biết nhưng trong đó tôi chỉ biết một câu và thường nghêu ngao một mình : “If you come down to the river. If you’ re rowing on the river. Rowing rowing on the river. You don’t have to worry because you have no money…” Tạm dịch “Nếu anh đến ở bên giòng sông. Nếu anh chèo thuyền trên sông. Chèo thuyền chèo thuyền trên sông. Anh không lo lắng muộn phiền vì anh chẳng có tiền…” và hình ảnh một đám thanh niên tóc dài hippies đi chân đất sống hòa nhập với thiên nhiên đăng trong tờ báo Life. Tôi gom góp được một số tiền bỏ nhà bỏ học lên đường đi “Bụi Đời”.
Hippy Bụi Đời và thực tế khác nhau rất xa. Tôi hết tiền rất nhanh và ghé vào Đà Nẵng thăm chị mình nhưng thật chất là xin ăn. Ông anh rể kiếm cho tôi một việc làm trong phi trường Đà Nẵng cho quân đội Mỹ, đang ào ạt vào Việt Nam tham chiến. Vài tháng sau phòng nhân viên tại đường Quang Trung mở thi tuyển thông dịch viên. Tôi trúng tuyển và được thâu nhận làm thông dịch viên cho Đại Đội 29 Dân Sự Vụ Bộ Binh Mỹ đóng trong Bộ Tư Lệnh Lực Lượng III Thủy Quân Lục Chiến Hoa Kỳ tại bên kia bờ sông Hàn.
Lúc còn đi học tôi chọn Anh Ngữ là ngoại ngữ phụ nên vốn liếng tiếng Anh chẳng là bao, khi làm thông dịch viên tôi nói thì tôi nghe và Mỹ nói thì Mỹ nghe. Tôi ôm cuốn tự điển Anh Ngữ và cuốn văn phạm Anh Ngữ mở lớp tự học Anh Ngữ trong trại lính Mỹ và lớn dần với thời gian. Vài tháng sau tôi mua được một chiếc xe gắn máy mới hiệu Honda, đó là niềm mơ ước từ lâu của tôi, rồi quên mất chuyện trở lại trường xưa để tiếp tục học hành mà bước thẳng vào đời.
Năm Mậu Thân tôi về lại Huế ăn tết và mắc kẹt lại tại vùng Gia Hộì vì quân cộng sản Bắc Việt mở trận công kích chiếm trọn thành phố. Khi quân lực VNCH đánh bật quân cộng sản ra khỏi thành phố tôi phải ở lại thêm một tuần vì đường giao thông từ Huế vào Đà Nẵng chưa được giải tỏa. Trong tuần lễ đó, ban ngày cả xóm tôi đang ở náo loạn mỗi khi tìm được xác người thân trong xóm bị chôn trong các hầm tập thể, ban đêm tôi phải thức trắng đêm không ngủ được vì tiếng khóc hằng đêm của những người vợ mất chồng mẹ mất con em mất anh con mất cha trong xóm. Những năm sau đó khi trở về thăm Huế, nơi được sanh ra và lớn lên, tôi không bao giờ đủ can đảm ở đến ngày thứ 3 vì mỗi lần nằm xuống trong mơ màng thì tiếng khóc lại vang lên trong tai. Nay đang cư ngụ tại Mỹ không có kế hoạch về thăm lại Việt Nam và nếu có về Việt Nam cũng chưa chắc tôi sẽ đi Huế, có lẽ tôi đã mất Huế. Người ta nói Huế để đi mà nhớ nhưng đối với tôi Huế để đi mà quên vì ai cũng muốn quên những câu chuyện buồn.
Sau năm Mậu Thân chính quyền Miền Nam Việt Nam ban hành lệnh Tổng động viên. Tôi rời chỗ làm lên đường nhập ngũ. Sau một thời gian được huấn luyện tại trường Bộ Binh Thủ Đức và trường Tình báo Cây Mai, tôi trình diện Phòng Nhì Bộ Tư lệnh Quân Đoàn I (BTLQĐI) và được phân công làm Sĩ Quan Liên Lạc trong phái bộ cố vấn Mỹ (MACV) của BTLQĐI. Hai năm sau tôi được du học thêm về ngành tình báo và đưa về làm Sĩ quan Tình báo trong Ban Tình Báo của Phòng 2 BTLQĐI.
Ban Tình Báo do Đại Úy Thuận làm trưởng ban với 3 sĩ quan là Trung Úy Ninh, Trung Úy Hẽo và tôi. Phần việc của tôi là lên bản đồ hàng ngày những vị trí điện đài của quân cộng sản trong vùng và cùng với hai sĩ quan trong ban lên tin tức để Đại Tá Phạm Văn Phô thuyết trình cho Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm, tư lệnh Quân Đoàn I, mỗi buổi sáng. Trung Úy Hẽo là một sĩ quan siêng năng thường tới sớm lo vẹn toàn đầy đủ tin tức cho những buổi thuyết trình. Sau năm 1975 mới lộ ra y là một cơ sở của cộng sản, như thế những tin tức trong phòng hội của BTLQĐI đã được y chuyển cho cộng sản suốt thời gian y làm việc. Thời gian gần đây một số anh em làm tại phòng 2 BTLQĐI có về VN gặp y đi lượm rác kiếm ăn và gần đây thì lại thấy cạo đầu đi tu.
Hôm đó là ngày mồng 4 tết năm Tân Sửu, tức là ngày 30 tháng 1 năm 1971. Ban Tình Báo chia làm 2, tôi và Đại Úy Thuận lên đường theo đoàn xe của BTLQĐI ra Đông Hà thành lập Bộ Chỉ Huy Tiền Phương để bắt đầu cuộc hành quân Lam Sơn 719 qua Lào.
Vùng hành quân theo đường 9 qua đến thành phố Tchépone, Lào. Mặt trận để dàn quân trải dài từ biên giới Việt Lào là Lao Bảo đến Tchépone khoảng 40 cây số đường chim bay. Số quân đổ vào mặt trận trên dưới 20 ngàn. Với mục đích (Không nói ra khi mở đầu cuộc hành quân) thiết lập trên các cao điểm một số Căn Cứ Hỏa Lực hai bên đường 9 trong thời gian dài để khống chế chặn đường xâm nhập quân cộng sản. Phía Bắc đường 9 có 2 Căn Cứ Hỏa Lực 30 và 31 do quân dù và pháo binh trấn giữ. Bên ngoài về hướng bắc 2 Căn Cứ Hỏa Lực trên có TĐ 39 BĐQ và TĐ21 BĐQ nằm vành đai. Dưới 2 Căn Cứ Hỏa Lực trên có Căn Cứ Hỏa Lực A Lưới là nơi đồn trú của quân Thiết Giáp, Dù và Pháo binh. Phía Nam đường 9 là nơi đóng quân của Sư Đoàn I Bộ Binh tại các cao điểm tên là Delta, Lolo, Sophia.
10 ngày sau tôi được lệnh cùng Đại Úy Cảnh, ban trận liệt, lên đường bay đến một ngọn đồi gần phi trường Khe Sanh để lập Bộ Chỉ Huy Nhẹ cho Đại Tá Nguyễn Đình Vinh, vị chỉ huy trưởng toàn Mặt Trận, lên sau đó. Khoảng 1 tuần sau Bộ chỉ Huy Nhẹ đón nhận một vị khách không mời, Đại Tá Nhật, trưởng phòng 3 BTLQĐI. Ông trước là sĩ quan quân huấn thường tạo nhiều khuyết điểm khi thuyết trình và hay bị Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm “nổ”. Ông thường nằm đu dưa trên võng và hồn nhiên nói: “Tao bán cái cho thằng Nhàn dưới đó” (Trung Tá Nhàn, phó phòng 3 đang ở Đông Hà).
Cuộc hành quân đang diễn ra tốt đẹp. Các đơn vị tịch thâu được nhiều chiến lợi phẩm và vào được các vị trí chỉ định không bị kháng cự nhiều của địch. Tôi đưa về Đông Hà một tù binh bắt được từ chiến trường Lào, đó là tù binh độc nhất trong cuộc hành quân, y đã khai thấy rất nhiều chiến xa pháo binh tụ tập trong vùng trước đó 2 tháng. Sau này tôi được biết cuộc hành quân đã bị lộ từ trung ương nên cộng sản đã bí mật giấu tại vùng hành quân 5 Sư đoàn gồm 12 Trung đoàn bộ binh, 1 Trung đoàn thiết giáp, 1 Trung đoàn pháo, 19 Tiểu đoàn phòng không và đang giăng một cái bẫy chờ đón quân VNCH.
Một tuần sau vào một buổi trưa Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm bước vào phòng họp của Bộ Chỉ Huy Nhẹ tay cầm cái can gỗ quất mạnh vào mấy cái ghế và nói như hét, “Nó qua bên đó làm gì ? Tao vừa ở bên đó về, ở đó rất yên tĩnh mà”, thì ra Đại Tá Nhật nghe tin Trung Tướng HXL từ Đông Hà lên nên đã ra Phi đoàn Trực thăng đậu trước Bộ Chỉ Huy Nhẹ lấy một chiếc Trực thăng bay qua thăm Tiểu đoàn 39 BĐQ và bị bắn rơi. Hai chiếc Trực thăng Cobra được điều động lên tìm nhưng khoảng hơn giờ sau đều trở về báo cáo không thể xuống được vì hỏa lực phòng không của địch quá dày. Quân cộng sản bắt đầu lộ diện nổ súng thì bắn rơi được máy bay của trưởng phòng 3 BTLQĐI trong tay ông ta có mang theo cuốn sổ trong đó có phóng đồ của cuộc hành quân.
Ngày hôm sau một cuộc họp trong Bộ Chỉ Huy Nhẹ diễn ra giữa các vị chỉ huy của từng binh chủng có tham dự cuộc hành quân, phía Mỷ có ba vị tướng, một mặc áo Không Quân, có lẽ là Tư lệnh Không Quân Mỹ ở Đà Nẵng, một mặc áo bộ binh, có lẽ là Tư lệnh sư đoàn 101 dù Mỹ đang đóng tại Phú Bài và một là Chuẩn tướng cố vấn của BTLQĐI. Trong cuộc họp Trung Tướng HXL nói thật to một cách bất mãn “President said you support why you say no ?” (Tổng thống nói anh yểm trợ tại sao anh nói không ?). Sau cuộc họp ba vị tướng Mỹ ra đứng bên ngoài hầm tiếp tục họp với nhau thêm vài gìờ nữa. Sau này tôi được biết cuộc hành quân không được sự đồng thuận của Mỹ vì Tổng Thớng Richard Nixon đang câu đươc con cá lớn (bắt tay với Trung Cộng). Phó tổng thống Trần Văn Hương phải họp báo tại Sài Gòn vừa tố giác vừa kêu gọi nên Mỹ mới tham gia. Phía cộng sản Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng họp báo thách thức ai làm chủ được Tchépone thì làm chủ được Hạ Lào.
Khi phía Mỹ đồng ý yểm trợ cuộc hành quân thì phi đoàn chiến đấu cơ của không quân Mỹ ở Đà Nẵng được chuyển ra Đông Hà. Phi đoàn Trực thăng 217 của Sư đoàn Không kỵ Mỹ được đưa lên Khe Sanh. Phi trường Khe Sanh nhộn nhịp hẳn lên. Tôi từ giã Bộ Chỉ Huy Nhẹ lên đường nhận nhiệm vụ mới : Sĩ quan liên lạc cho Phi đoàn Trực thăng 217. Phần việc của tôi là mỗi buổi chiều đi cùng Trung tá Chỉ huy trưởng (TTCHT) Phi đoàn 217 Robert f. Molineli qua họp tại bộ Chỉ Huy Nhẹ và thu thập tin tức cuộc hành quân để thuyết trình cho Phi hành đoàn mỗi buổi tối. Về sau tôi được biết phía Mỹ khi tham gia cuộc hành quân đã có 65 Phi hành đoàn bị bắn rơi. 42 mất tích. 818 bị thương. 106 chiếc máy bay bị hủy. 618 chiếc bị hư hại. Điều dở nhất của chính giới Hoa Kỳ tại Washington D.C. là đã đưa vào trận chiến Việt Nam hàng trăm vị Tướng giỏi nhưng khi muốn rút chân ra khỏi trận chiến lại giao cho tên Hạ sĩ thuộc Sư đoàn bộ binh 84 tên là Henry Kissinger giải quyết. Nên những Phi công Mỹ bị bắn rơi tại Lào không bao giờ về lại được đất Mỹ.
Chiều hôm đó TTCHT Phi đoàn 217 và tôi bay qua Bộ Chỉ Huy Nhẹ để họp, vừa bước vào hầm họp thì Đại Tá Nguyễn Đình Vinh nói liền với TTCHT Phi đoàn 217 “Sau cuộc họp này tôi nhờ anh cho 1 chiếc Trực thăng lên tìm TĐ 39 BĐQ giùm, chúng tôi bị mất liên lạc với họ từ chiều qua”. Câu nói vừa xong thì chuông điện thoại reo Đại Tá NĐV bắt điện thoại trả lời, bận rộn gọi điện thoại ra lệnh điều khiển trận đánh.
Cuộc họp hành quân buổi chiều ấy bị hủy. Chúng tôi ra về, thay vì đáp xuống phi trường Khe Sanh TTCHT, phi đoàn 217 lại điều khiển trực thăng bay rà thấp trên ngọn cây qua Lào ngang qua nơi đóng quân của Tiểu Đoàn 39 BĐQ và Căn Cứ Hỏa Lực 31. Xác người nằm ngổn ngang từ dưới chân đồi lên, 2 chiếc xe tăng của quân cộng sản đang quần qua lại trên đỉnh đồi, hai quà đạn pháo làm bùng lên hai ngọn lửa lớn, tiếng súng phòng không lộp bộp. Quân cộng sản đã tràn ngập vị trí đóng quân của TĐ39 BĐQ. Quân dù trên Căn Cứ Hỏa Lực Đồi 31 vẫy tay chào. Chiếc trực thăng dàn ra xa và bay vút lên cao, ông ta mở tần số liên lạc và ra lệnh cho tôi gọi tìm TĐ39 BĐQ. Tiếng tôi vang lên trong không gian âm u trên cao của bầu trời đang ngả màu tối. Đạn phòng không của của quân cộng sản giăng tỏa thành một màn lưới sáng đi chập chờn từ dưới lên quanh chiếc máy bay. Vài quả đạn nổ trên không làm đỏ rực bầu trời, tôi có cảm giác chiếc máy bay chòng chành theo từng tiếng nổ. Tôi không biết quân cộng sản đã khai hỏa bao nhiêu lâu nhưng thời gian đó là những giây phút dài nhất trong đời tôi. Tôi báo cáo với Trung tá Chỉ huy trưởng Phi đoàn là không bắt liên lạc được dưới đất sau khi đã chuyển đổi nhiều tần số. Chiếc máy bay nghiêng xuống về lại Bộ Chỉ Huy Nhẹ để báo cáo cùng Đại Tá Chỉ Huy Trưởng cuộc hành quân về phi vụ vừa thực hiện.
Hôm sau TTCHT phi đoàn 217 cho tôi biết chiếc phi cơ trực thăng đã bị hư nhẹ vì có trúng đạn. Về sau tôi được biết tôi đã bay trên hỏa lực phòng không mạnh nhất dày nhất kể từ thế chiến thứ II bằng 1 chiếc Trực thăng mà bên dưới có 19 tiểu đoàn phòng không nhắm bắn không trúng. Tôi thoát chết là nhờ bầu trời vụt tối khá nhanh bên dưới nhìn lên không thấy được chiếc phi cơ in trên nền trời đen thẫm. Hú hồn. Chiến tranh là hoạt động ngu xuẩn nhất của con người. Sanh mạng của mình được trao cho những con người không quen biết.
Bốn hôm sau Đại Đội Hắc Báo, chuyên nhảy toán cứu Phi hành đoàn bị bắn rơi và bảo vệ sân bay, cùng với lính Mỹ đang phòng thủ sân bay đưa vào 5 binh sĩ của TĐ39 BĐQ chạy bộ từ chiến trường về. Tôi kiếm đồ cho họ ăn và lấy xe đưa họ về Bộ Chỉ Huy Liên Đoàn BĐQ nằm dưới Bộ Chỉ Huy Nhẹ. Trong câu chuyện với người xạ thủ súng M72 của Tiểu Đoàn 39 BĐQ tôi được biết như sau : Không thể chặn đứng được chiếc chiến xa T54 đi đầu của địch khi nó tiến lên đồi. “Em bắn tất cả 3 quả M72. Quả đầu hơi xa em không biết chắc có trúng hay không. 2 quả sau em biết chắc rằng em đã bắn trúng nhưng đạn không găm vào xe mà đi trợt ra ngoài” “Tại sao ?”. “Vì chúng đi từ dưới đồi lên. Lúc chúng tập trung quân em đã quan sát rất kỹ chiếc chiến xa T54 này, chỉ hạ được bằng cách bắn vào dưới bánh xe mà thôi. Phần trên và tháp súng của xe có bắn trúng cũng không ăn nhằm gì. Em đứng trên cao xe dưới thấp đi lên em không thấy được phần dưới xe. Khi em bắn quả cuối cùng chiếc xe T54 chỉ còn cách em 15 mét nên em dục tất cả và chạy bộ về đến đây”. Anh ta hạ giọng “Em không cản được thì tụi dù cũng không cản được, em sợ chúng ta … thua trận này quá!”. Tôi trả lời “Dưới đất không cản được T54 thì máy bay trên không cản được”.
Mấy ngày sau quân cộng sản tập trung tấn công vào Căn Cứ Hỏa Lực 31. Một chiếc chiến đấu cơ của Không quân Mỹ yểm trợ cuộc hành quân bị bắn rơi, chiếc còn lại ham cứu bạn không cần biết trận chiến bên dưới. Quân dù không cản nổi xe tăng T54. Căn Cứ Hỏa Lực 31 bị tràn ngập. Về sau này khi quan sát những chiếc xe tăng T54 bị bắn bể giây xích bánh xe nằm ngổn ngang trên bãi cát bên kia bờ sông Mỹ Chánh tôi mới hiểu rằng lời nói của người xạ thủ M72 của TĐ 39 BĐQ là đúng.
Ngang đây tôi xin bạn đọc cho tôi có vài lời với những người chưa hề cầm súng. Chiến trường thắng bại phần đông do vũ khí và những người lính gan dạ vô danh. Nếu không có vũ khí là cây tre dài buộc dao nhọn và bùi nhùi tẩm dầu lửa được đốt lên khi tấn công thì vua Quang Trung không thể đánh bại quân Xiêm và quân Thanh. Nếu không có những cây súng hỏa mai mua của Tây Phương thì vua Gia Long không bao giờ giành lại được sơn hà. Xe tăng T54 không phải là vũ khí mới, không phải là loại vũ khí không trị được nhưng trong ngẫu nhiên quân cộng sản dùng nó để tấn công vào các cao điểm đi từ dưới thấp lên bảo vệ được bánh xe nên thành công. Nếu quân lực VNCH giữ vững được các Căn Cứ Hỏa Lực trên đất Lào chặn được đường xâm nhập của cộng sản thì Miền Nam Việt Nam không bao giờ bị mất. Đó là lý do tại sao chúng ta mất Miền Nam Việt Nam. Lý do này tôi cho là lý do chính.
Theo một tài liệu của người Mỹ cho biết trong trận chiến tại Hạ Lào, Quân Lực VNCH đã thiệt hại đến 5.000 người vừa chết vừa bị thương và mất tích, quân cộng sản là 13.341 người. Tất cả khí tài của 2 phe tham chiến điều bị hủy diệt. Số liệu này không thể được gọi là chính xác, nhất là sự thiệt hại của quân cộng sản. Thế thì trận đánh Hạ Lào là một trận đánh tổn thất lớn nhất cho cả 2 bên trong chiến tranh Việt Nam diễn ra như thế nào và cách giết nhau như thế nào mà có đến gần 20.000 người thiệt mạng (có thể nhiều hơn). Tôi xin trình bày tổng quát đơn giản, khách quan trung trực theo sự hiểu biết có hạn của tôi, một Sĩ quan Tham mưu nhỏ nhất còn sống sót, trong trận chiến.
Trận chiến Hạ Lào có 7 trận đánh lớn :
Trận thứ nhất quân cộng sản tấn công xóa sổ TĐ 39 BĐQ
Trận thứ nhì quân cộng sản tấn công tràn ngập Căn Cứ Hỏa Lực 31
Trận thứ 3 quân cộng sản bao vây và dùng pháo binh cầm chân quân Thiết Giáp đang đồn trú tại Căn Cứ Hỏa Lực A Lưới
Trận thứ tư quân cộng sản phục kích quân thiết giáp và quân Dù đi cứu Căn Cứ Hỏa Lực 31.
Trận thứ năm quân cộng sản phục kích quân của Sư Đoàn I khi họ rút ra sau khi đã vào Tchépone.
Trận thứ sáu quân cộng sản tấn công xóa sổ TĐ 21 BĐQ
Trận thứ bảy quân cộng sản bao vây Căn Cứ Hỏa Lực 30. Khi quân trong Căn Cứ Hỏa Lực 30 được lệnh bí mật rút lui là toàn bộ quân của QLVNCH từ Lào đồng tháo chạy về Khe Sanh.
Các giới chức quân sự thường cho rằng bên bị phục kích luôn luôn thiệt hại nhiều hơn bên phục kính và con số 1 thủ bằng 3 công để đo lường thiệt hại đôi bên khi tham chiến. Ý tưởng này không đúng với trận chiến ở Hạ Lào. Trận đánh này là trận đánh dùng kỹ thuật trong chiến tranh của 2 phe tư bản và cộng sản mà người Việt Nam đã sử dụng để giết nhau một cách tàn nhẫn.
Thuở đó ngành Tình báo của Quân Lực VNCH đã phát triển thêm Nha Kỹ Thuật để áp dụng những phát minh mới nhất của nền khoa học kỹ thuật hiện đại vào phục vụ cho ngành Tình báo và chiến tranh. Hai phát minh mới nhất về tình báo để hỗ trợ cho trận chiến Hạ Lào là các toán kỹ thuật dùng máy Sensors, là những chiếc máy nhỏ được thả trong rừng để định vị địch và dùng pháo bắn hủy diệt và chiếc máy bay EP-3 (Sau này Trung Cộng có bắt Mỹ hạ cánh tại đảo Hải Nam một chiếc) bay vần vũ suốt ngày trên bầu trời phi trường Khe Sanh để định vị trí điện đài quân cộng sản đang tham gia trong trận đánh và dùng pháo đài bay B52 thả bom hủy diệt. Tôi nghĩ rằng quân cộng sản cũng đã biết những kỹ thuật đó nhưng họ không còn chọn lựa nào khác là phải sử dụng điện đài để điều quân tham chiến.
Pháo đài bay B52 xuất phát từ Thái Lan bay đến mặt trận Hạ Lào trong vòng 1 giờ, mỗi phi vụ gồm 3 chiếc, mỗi chiếc mang được 32 tấn bom dàn hàng ngang rải bom hủy diệt một vùng hình chữ nhật rộng hơn 1 cây số dài hơn 6 cây số. Không chết vì trúng bom thì cũng chết vì âm thanh khi nằm trong khu vực bị B52 dội bom.
Hầu hết các trận đánh đều có sử dụng các phi vụ B52 để chặn đường tiến quân, giải tỏa áp lực hay hủy diệt toàn bộ khu vực nếu không giữ được. Những phi vụ B52 có tác dụng hủy diệt nhiều nhất mà tôi được biết là :
Khi quân thiết giáp và quân Dù đi cứu Căn Cứ Hỏa Lực 31 bi phục kích, toàn bộ thiết giáp và khí tài được lệnh bỏ lại chiến trường và bí mật rút quân ra trong vòng vài giờ vào lúc nửa đêm để một Phi vụ có đến 6 chiếc B52 rải thảm bom hùy diệt.
Trận đánh tại Căn Cứ Hỏa Lực Đồi 30 khi bị quân cộng sản bao vây tăng áp lực, các vị chỉ huy đã vẽ một tam giác cho quân trú phòng vào một góc và cho B52 thả bom ở cạnh đối diện. Sau khi thả hết 3 cạnh của tam giác quân trú phòng được lệnh rút và toàn bộ quân VNCH đều chạy về Khe Sanh. Ngày hôm đó toàn bộ điện đài của quân cộng sản tại Lào không còn hoạt động. Có ý kiến của các vị chỉ huy cần tái chiếm vì quân cộng sản đã bị tổn thất quá nặng không còn đủ sức tấn công nhưng người Mỹ lại từ chối yểm trợ.
Trong những năm gần đây tôi có về Việt Nam đi các nhà sách để tìm đọc những bài viết của người lính cộng sản có tham gia trận đánh Hạ Lào thì chỉ tìm ra độc nhất một bài viết vài trang của tướng công binh cộng sản Đồng Sĩ Nguyên viết về việc xây dựng đường 559 phục vụ cho trận chiến Hạ Lào mà thôi. Phải chăng tất cả họ đều đã chết dưới bom đạn. Phía quân lực VNCH có 2 nhân vật chủ chốt trong trận đánh Hạ Lào vẫn còn sống là Trung Tướng Hoàng Xuân Lãm và Đại Tá Nguyễn Đình Vinh thì hình như không có bài viết nào về trận đánh mà chỉ có những bài viết của những cấp thấp nên đầy phiến diện.
Hình như hầu hết những cuộc chiến tranh do con người bày ra đều có nhiều lý lẽ tưởng rằng đúng lúc mới tham gia và cũng có nhiều nỗi hối hận giày vò khi tàn cuộc chiến. Không có gì hay ho để đánh giá ai thắng ai bại trong trận đánh Hạ Lào, một trận đánh trong hàng trăm trận đánh của cuộc chiến tranh cốt nhục tương tàn nhưng lại cần định tội cho những ai đã gây ra cuộc chiến tranh vô nghĩa và ngu xuẩn ấy.
Hôm nay ngồi trong quán café tại thành phố Atlanta, tôi hỏi cô bé du học sinh có thân hình đầy đặn khuôn mặt ngây thơ đang bưng café để kiếm thêm tiền trả học phí “Con ở đâu bên Việt Nam ? ”. “Con ở Hà Lội”.
Tôi biết một cách chắc chắn rằng tôi chẳng có gì thù hận cô ta và cô ta cũng chẳng có gì thù hận tôi nhưng 40 năm trước nếu chúng tôi gặp nhau là gặp nhau trên hai chiến tuyến. Tôi bỗng nhớ lại 2 thằng bạn học du đãng năm xưa và nhớ cả trận đánh Hạ Lào. Tôi đi về nhà ngồi gõ gõ viết lại chuyện xưa mà lòng vẫn đầy thương cảm cho 20.000 sanh mạng đã vùi thây trên vùng đất Hạ Lào, họ cũng có những tâm tư tình cảm giống tôi nhưng thiếu may mắn hơn tôi. Đớn đau ai cũng là người. Đớn đau ai cũng là người đớn đau.
Nhất Hướng Nguyễn Kim Anh